Chương 1
Lời đề tặng
Gửi Michael của em - Một trong những ân phước lớn lao nhất đời em là mỗi sớm mai thức giấc, được nhìn ngắm gương mặt ngọt ngào của anh.
Gửi đến “Trục Tọa Thiên Thần” của riêng tôi - Hẳn ai cũng tự biết mình là ai rồi…
Gửi đến tất cả những thiên thần nhân ái tại Cơ sở Điều dưỡng Western State. Nguyện xin Chúa ban phước lành cho những điều các bạn đã và đang làm để chăm sóc mẹ tôi.
Và gửi đến Thiên Chúa nhân từ, Người đã chữa lành kẻ què quặt và soi sáng đôi mắt của người mù lòa.
Đề từ
Có ai từng yêu mà lại không bắt đầu từ ánh nhìn đầu tiên?
- CHRISTOPHER MARLOWE
Chương 1
Nước Anh, năm 1806. Cô March thân mến, tôi khẩn khoản xin cô thứ lỗi cho sự đường đột khi phải liên lạc theo một cách chẳng mấy thông thường như thế này…
“Vậy hãy nói tôi nghe, cô Wickersham, cô đã có chút kinh nghiệm nào chưa?”
Từ sâu trong tòa dinh thự cổ kính mang dáng dấp kiến trúc Jacobean, một tiếng đổ vỡ vang lên dữ dội đến rợn người. Dẫu lão quản gia béo tốt đang chủ trì buổi phỏng vấn run bắn cả người, còn bà quản gia đứng thẳng bên bàn trà cũng buột miệng kêu thảng thốt the thé, Samantha vẫn giữ nguyên ánh nhìn, không chớp lấy một lần.
Thay vào đó, nàng bình thản rút từ ngăn bên của chiếc túi du lịch bằng da đã sờn cũ đặt dưới chân một xấp giấy tờ được xếp ngay ngắn rồi đưa tới. “Tôi tin rằng ông sẽ thấy các thư giới thiệu của tôi đều hết sức chỉn chu, ông Beckwith ạ.”
Dẫu đang giữa trưa, ánh sáng trong phòng ăn sáng nhỏ bé này lại ảm đạm đến thê lương. Những tia nắng yếu ớt len qua kẽ hở của lớp rèm nhung dày nặng, vạch thành từng vệt dài trên nền hoa văn đỏ hồng ngọc rực rỡ của tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ. Những cây nến sáp rải rác trên các bàn nhỏ hắt bóng đen chập chờn vào các góc phòng. Không khí đặc quánh mùi ẩm mốc và tù túng, như thể nơi này đã bị niêm phong suốt hàng thế kỷ. Nếu không vì thiếu những dải lụa tang đen phủ lên cửa sổ và gương, Samantha hẳn đã thề rằng trong nhà vừa có người thân cận qua đời.
Lão quản gia nhận lấy xấp giấy từ bàn tay đeo găng trắng của nàng rồi mở ra. Khi bà quản gia vươn cái cổ dài ngoẵng để nhìn qua vai lão, Samantha chỉ còn biết thầm cầu mong ánh sáng lờ mờ kia sẽ đứng về phía mình, khiến họ không thể soi xét quá kỹ những chữ ký nguệch ngoạc ấy. Bà Philpot là một người phụ nữ có dung mạo ưa nhìn nhưng khó đoán tuổi. Thân hình bà mảnh khảnh, khô khốc bao nhiêu thì lão quản gia lại tròn trịa bấy nhiêu. Gương mặt bà không hằn nếp nhăn, nhưng mái tóc búi chặt sau gáy đã điểm những sợi bạc lốm đốm.
“Như ông thấy đấy, tôi đã có hai năm làm gia sư cho Huân tước và Phu nhân Carstairs,” Samantha lên tiếng khi ông Beckwith lật giở xấp giấy một cách hời hợt. “Ngay khi chiến tranh lại bùng nổ, tôi đã cùng một số gia sư khác tình nguyện chăm sóc các thủy thủ và binh lính bị thương tích tàn phế trở về từ đại dương hoặc tiền tuyến.”
Bà quản gia không giấu nổi cái mím môi đầy ẩn ý. Samantha thừa biết ngoài kia vẫn có những kẻ tin rằng các phụ nữ đi chăm sóc binh lính chẳng khác gì lũ tình nhân bám theo quân đội, những kẻ thiếu đoan chính đến mức chẳng buồn đỏ mặt khi đối diện với thân thể trần trụi của một người đàn ông xa lạ. Cảm thấy hơi nóng dâng lên nơi gò má, nàng càng ngẩng cao cằm hơn, như muốn tự giữ lấy phần kiêu hãnh mong manh của mình.
Ông Beckwith nhìn nàng qua cặp kính gọng sắt. “Tôi phải thú thật với cô, cô Wickersham, rằng cô có phần… trẻ hơn so với những gì chúng tôi hình dung. Những công việc nặng nhọc như thế này e rằng cần một người phụ nữ… từng trải hơn. Có lẽ những ứng viên khác…” Trước ánh nhìn sắc lạnh của Samantha, lão chợt khựng lại rồi im bặt.
“Tôi chẳng thấy ứng viên nào khác cả, ông Beckwith ạ,” nàng đáp, khẽ dùng một ngón tay đẩy gọng kính vốn không mấy vừa vặn lên sống mũi. “Với mức lương hậu hĩnh, thậm chí có phần xa xỉ, mà ông đăng trong mẩu quảng cáo, tôi đã ngỡ họ phải xếp hàng dài đến tận cổng dinh thự kia kìa.”
Lại thêm một tiếng đổ vỡ vang lên, lần này còn gần hơn trước, như thể một con quái thú khổng lồ nào đó đang lầm lũi trở về hang ổ của mình.
Bà Philpot vội vã lách qua ghế, những lớp váy lót hồ cứng phát ra tiếng sột soạt. “Cô có muốn dùng thêm chút trà không, cô bé?” Khi bà rót trà từ chiếc ấm sứ, tay bà run bắn đến mức nước trà văng qua vành đĩa, vấy cả lên váy Samantha.
“Cảm ơn bà,” Samantha lẩm bẩm, kín đáo dùng găng tay thấm đi vết ướt đang loang ra.
Sàn nhà dưới chân họ rung lên bần bật, và bà Philpot cũng vậy. Một tiếng gầm đục ngầu vang theo sau, điểm xuyết bằng một tràng chửi rủa, may thay không nghe rõ từng chữ. Không còn nghi ngờ gì nữa. Ai đó, hoặc một thứ gì đó, đang tiến lại gần.
Liếc về phía cánh cửa đôi mạ vàng dẫn sang phòng bên với vẻ hốt hoảng, ông Beckwith loạng choạng đứng dậy, vầng trán lấm tấm mồ hôi. “Có lẽ đây không phải là thời điểm thích hợp nhất…”
Khi lão vội nhét trả xấp thư giới thiệu vào tay Samantha, bà Philpot cũng nhanh tay giật lấy tách trà và chiếc đĩa từ tay kia của nàng rồi đặt lại lên xe trà với một tiếng lách cách gấp gáp. “Beckwith nói đúng đấy, cô bé ạ. Cô phải thứ lỗi cho chúng tôi. Có lẽ chúng tôi đã quá vội vàng…” Người đàn bà kéo Samantha đứng dậy, gần như lôi nàng rời xa cánh cửa, hướng về phía cánh cửa sổ kiểu Pháp phủ rèm dày dẫn ra sân thượng.
“Nhưng hành lý của tôi!” Samantha phản đối, ngoái đầu nhìn chiếc túi du lịch bằng da với vẻ bất lực.
“Đừng lo, cô bé,” bà Philpot trấn an, nghiến răng nặn ra một nụ cười tử tế đến gượng gạo. “Tôi sẽ bảo gia nhân mang nó ra xe ngựa cho cô sau.” Khi những tiếng đổ vỡ ầm ầm và lời chửi rủa mỗi lúc một dâng cao, người đàn bà siết chặt tay áo Samantha, kéo nàng đi gần như xềnh xệch. Ông Beckwith lao vút qua họ, đẩy tung cánh cửa sổ cao kịch trần, để ánh nắng tháng Tư rực rỡ tràn vào xua đi phần nào bầu không khí ảm đạm. Nhưng trước khi bà Philpot kịp đẩy Samantha ra ngoài, mớ âm thanh hỗn độn bí ẩn kia bỗng im bặt.
Cả ba đồng loạt quay lại, dán mắt vào cánh cửa đôi mạ vàng ở phía đối diện căn phòng.
Trong một khoảnh khắc, không gian tĩnh lặng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng tích tắc thanh mảnh của chiếc đồng hồ Pháp mạ vàng trên bệ lò sưởi. Rồi một âm thanh kỳ quái vang lên, như thể có thứ gì đó đang quờ quạng, thậm chí cào cấu lên cánh cửa. Một thứ gì đó rất lớn. Và đang giận dữ. Samantha vô thức lùi lại một bước. Bà quản gia và lão quản gia trao nhau cái nhìn đầy lo âu.
Cánh cửa bật tung, đập mạnh vào vách tường tạo nên một tiếng rầm chấn động. Hiện ra giữa khung cửa không phải quái vật, mà là một người đàn ông, hay đúng hơn, là những gì còn lại của một con người sau khi lớp vỏ hào nhoáng của giới thượng lưu đã bị lột sạch. Mái tóc nâu vàng rối bù vì thiếu chăm sóc xõa dài quá vai. Bờ vai rộng đến mức gần như lấp kín cả lối đi. Chiếc quần chẽn bằng da hươu ôm khít hông, tôn lên từng đường cơ bắp nơi đùi và bắp chân. Bộ râu lún phún vài ngày chưa cạo phủ bóng lên quai hàm, ban cho diện mạo anh một vẻ phong trần hoang dại như tướng cướp. Nếu anh còn ngậm thêm một thanh đoản kiếm giữa hai hàm răng đang nghiến chặt kia, hẳn Samantha đã quay đầu bỏ chạy để giữ lấy chút tiết hạnh mong manh của mình.
Anh đi tất nhưng không mang ủng. Chiếc khăn quàng cổ nhăn nhúm buông lỏng quanh cổ, như thể ai đó đã cố thắt nó vài lần rồi bỏ cuộc trong bực bội. Chiếc sơ mi vải lanh tuột khỏi cạp quần, mất gần nửa hàng khuy, để lộ mảng ngực vạm vỡ khẽ phập phồng theo nhịp thở, lốm đốm những sợi lông tơ vàng nhạt.
Đứng sững trong bóng tối nơi ngưỡng cửa, anh nghiêng đầu theo một góc kỳ lạ, như thể đang lắng nghe một thứ âm thanh mà chỉ riêng mình anh cảm nhận được. Cánh mũi mang nét quý tộc khẽ phập phồng.
Lớp lông tơ sau gáy Samantha dựng đứng. Nàng không sao xua đi cảm giác rằng chính mùi hương của mình là thứ anh đang truy tìm, chính nàng là con mồi mà anh đang săn đuổi. Nàng vừa kịp tự nhủ đừng quá hoang tưởng thì anh đã tiến lên, lao thẳng về phía nàng với sự uyển chuyển của một kẻ săn mồi bẩm sinh.
Nhưng một chiếc ghế đôn bọc nệm dày cộm lại chình ình chắn ngang lối đi. Khi lời cảnh báo còn mắc kẹt nơi cổ họng, anh đã vấp phải nó và ngã sầm xuống sàn.
Tệ hơn cả cú ngã là cách anh cứ nằm đó, bất động, như thể chẳng còn lý do gì để đứng dậy nữa. Không bao giờ nữa.
Samantha chỉ biết đứng chôn chân khi Beckwith vội vã lao đến bên anh. “Thưa ngài. Chúng tôi cứ ngỡ ngài đang ngủ trưa.”
“Xin lỗi vì đã làm ông thất vọng,” Bá tước xứ Sheffield buông lời uể oải, giọng nói bị tấm thảm dày nuốt mất. “Chắc hẳn ai đó đã quên đặt tôi vào nôi rồi.”
Khi anh gạt tay người hầu ra và loạng choạng đứng dậy, ánh nắng từ cửa sổ chiếu thẳng vào mặt anh.
Samantha nín thở.
Một vết sẹo còn mới, đỏ ửng và dữ tợn, xẻ dọc từ khóe mắt trái xuống má anh như một tia chớp ngoằn ngoèo, khiến vùng da quanh đó co rúm lại. Đó từng là gương mặt của một thiên thần, mang vẻ đẹp nam tính chỉ dành cho các hoàng tử hay những tổng lãnh thiên thần. Nhưng giờ đây, nó đã bị đóng dấu vĩnh viễn bằng một ấn ký tàn nhẫn, như thể chính quỷ dữ đã chạm tay vào. Có lẽ chẳng phải quỷ, Samantha thầm nghĩ, mà chính Chúa cũng phải ghen tị khi thấy một phàm nhân dám chạm đến sự hoàn mỹ ấy. Nàng biết mình nên ghê sợ, nhưng lại không sao rời mắt được. Vẻ đẹp bị tàn phá ấy, theo một cách kỳ lạ, còn mê hoặc hơn cả sự toàn bích, như một điều gì đó vừa nguy hiểm vừa không thể cưỡng lại.
Anh mang vết sẹo như một chiếc mặt nạ, che khuất mọi dấu vết yếu đuối phía sau. Nhưng anh không thể che giấu sự hoang mang còn vương lại trong đôi mắt xanh màu bọt biển. Đôi mắt ấy không nhìn Samantha, mà dường như xuyên thẳng qua nàng, chạm đến một nơi nào đó xa xôi hơn.
Cánh mũi anh khẽ động. “Có một người phụ nữ ở đây,” anh khẳng định, giọng chắc nịch.
“Dĩ nhiên là có rồi, thưa ngài,” bà Philpot đáp với vẻ tươi tỉnh. “Beckwith và tôi vừa dùng trà chiều thôi mà.”
Bà quản gia lại kéo tay Samantha, lặng lẽ van nài nàng hãy mau chóng rời đi. Nhưng ánh nhìn vô định của Gabriel Fairchild đã ghim chặt nàng xuống sàn. Anh bắt đầu tiến về phía nàng, chậm rãi hơn, nhưng không kém phần quyết liệt. Ngay khoảnh khắc ấy, Samantha hiểu rằng mình đã quá ngốc khi lầm tưởng sự dè dặt của anh là yếu đuối. Chính sự tuyệt vọng âm ỉ kia mới khiến anh trở nên nguy hiểm hơn, nhất là đối với nàng.
Anh tiến lại gần với một quyết tâm đến mức ngay cả bà Philpot cũng lùi sâu vào bóng tối, để mặc Samantha đối diện với anh. Dù bản năng thôi thúc nàng lùi lại, nàng vẫn ép mình đứng yên, giữ lấy vẻ bình tĩnh mong manh. Nỗi lo anh sẽ đâm sầm vào nàng, hay giẫm nát nàng, đã không xảy ra.
Với một sự nhạy bén kỳ lạ, anh dừng lại khi chỉ còn cách nàng chưa đầy một bước chân, rồi thận trọng hít vào không khí. Samantha chưa từng nghĩ rằng mùi hương thanh khiết, chua dịu của cỏ roi ngựa nàng chấm sau tai lại có thể quyến rũ đến thế với một người đàn ông. Nhưng vẻ mặt của anh khi hít sâu mùi hương ấy khiến nàng có cảm giác mình như một cung nữ mỏng manh đang chờ đợi ân sủng của đức vua. Làn da nàng râm ran một cảm giác kích thích khó gọi tên, như thể anh đang chạm đến từng ngóc ngách trên cơ thể nàng cùng một lúc, mà chẳng cần nhấc lấy một ngón tay.
Khi anh bắt đầu đi vòng quanh nàng, Samantha cũng xoay theo, một bản năng nguyên thủy không cho phép nàng quay lưng phơi bày trước anh. Cuối cùng anh dừng lại, gần đến mức nàng có thể cảm nhận được hơi nóng hừng hực tỏa ra từ làn da anh và đếm được từng sợi lông mi cong vút ánh vàng bao quanh đôi mắt phi thường ấy.
“Cô ta là ai?” anh gặng hỏi, ánh nhìn ghim vào khoảng không ngay trên vai trái của nàng. “Và cô ta muốn cái quái gì?”
Trước khi hai người hầu kịp lắp bắp, Samantha đã dõng dạc lên tiếng. “Cô gái đó, thưa ngài, là Samantha Wickersham, và cô ấy đến đây để ứng tuyển vị trí điều dưỡng của ngài.”
Vị bá tước hạ thấp ánh nhìn vô định, đôi môi khẽ nhếch như thể buồn cười khi phát hiện con mồi lại nhỏ bé đến vậy. Một tiếng khịt mũi bật ra, khô khốc. “Ý cô là bảo mẫu? Một kẻ hát ru tôi ngủ mỗi tối, đút từng thìa cháo vào miệng tôi, và lau…” anh ngừng lại vừa đủ lâu để khiến hai người hầu co rúm vì kinh hãi “…cằm cho tôi nếu tôi có lỡ chảy dãi?”
“Tôi không có chất giọng hay để hát ru, và tôi tin chắc ngài hoàn toàn có thể tự lau… cằm cho mình,” Samantha đáp trơn tru, không chút do dự. “Nhiệm vụ của tôi là giúp ngài thích nghi với hoàn cảnh mới.”
Anh cúi thấp hơn, áp sát nàng. “Nếu tôi không muốn thích nghi thì sao? Nếu tôi chỉ muốn bị tống vào một cái xó chết tiệt nào đó để có thể mục rữa trong yên ổn thì sao?”
Bà Philpot hổn hển hít vào, nhưng Samantha nhất quyết không để mình bị lay động trước thứ ngôn từ thô ráp ấy. “Bà không cần đỏ mặt thay ngài ấy đâu, bà Philpot. Tôi cam đoan tôi không xa lạ gì với những cơn bùng nổ trẻ con này. Khi còn làm gia sư, lũ trẻ tôi dạy rất thích thử thách lòng kiên nhẫn của tôi bằng cách ăn vạ mỗi khi không được như ý.”
Bị so sánh với một đứa trẻ bướng bỉnh, vị bá tước hạ giọng thành một tiếng gầm đe dọa. “Và tôi đoán là cô đã chữa được thói đó cho chúng?”
“Với đủ thời gian. Và sự kiên nhẫn. Hiện tại, có vẻ như ngài được ban cho điều này, còn tôi thì sở hữu điều kia.”
Anh khiến nàng giật mình khi quay phắt về phía Beckwith và bà Philpot. “Điều gì khiến các người tin rằng cô ta sẽ khác với những kẻ trước?”
“Những kẻ trước?” Samantha lặp lại, nhướn mày.
Lão quản gia và bà quản gia trao nhau một ánh nhìn áy náy.
Vị bá tước lại quay ngoắt về phía nàng. “Tôi đoán là họ đã quên không nhắc đến những người tiền nhiệm của cô. Xem nào, đầu tiên là mụ già Cora Gringott. Mụ ta điếc đặc gần như tôi mù dở vậy. Chúng tôi thành một cặp bài trùng hoàn hảo. Tôi dành phần lớn thời gian lần mò cái ống nghe của mụ để gào vào đó. Nếu trí nhớ tôi còn dùng được, mụ ta trụ chưa đầy nửa tháng.”
Anh bắt đầu sải bước qua lại trước mặt Samantha, bốn bước tiến, bốn bước lùi, dứt khoát và đều đặn. Thật quá dễ để hình dung cảnh tượng anh đang bước trên boong tàu với vẻ uy nghi, mái tóc vàng tung bay trong gió, ánh mắt sắc lạnh ghim vào đường chân trời xa thẳm. “Sau đó là con bé từ Lancashire. Một sinh vật nhút nhát ngay từ đầu, nói năng cứ lí nhí. Nó thậm chí còn chẳng buồn nhận lương hay thu dọn đồ đạc khi rời đi. Chỉ biết tháo chạy và la hét trong đêm như thể bị một gã điên truy đuổi.”
“Thật là một cảnh tượng đáng nhớ,” Samantha lẩm bẩm, giọng nhẹ tênh.
Anh khựng lại một nhịp rồi tiếp tục sải bước. “Và chỉ tuần trước thôi, chúng ta vừa mất đi góa phụ Hawkins thân yêu. Bà ta có vẻ dẻo dai và lanh lợi hơn những kẻ kia. Trước khi hầm hầm bỏ đi, bà ta còn khuyên Beckwith đừng thuê điều dưỡng mà hãy thuê một người trông coi sở thú, vì chủ nhân của ông ta rõ ràng nên bị nhốt trong lồng.”
Samantha gần như phải cắn môi để giấu đi nụ cười đang chực trào.
“Vậy nên cô thấy đấy, cô Wickersham, tôi nằm ngoài mọi sự trợ giúp, đặc biệt là của cô. Cô cứ việc xách váy quay về cái phòng học, nhà trẻ hay bất cứ xó xỉnh nào cô bước ra. Chẳng cần lãng phí thêm thời gian quý báu của cô. Hay của tôi.”
“Thật quá đáng, thưa ngài,” Beckwith phản đối. “Không cần phải thô lỗ với một quý cô trẻ như vậy.”
“Quý cô trẻ?” Vị bá tước vung tay, suýt quật đổ cả chậu sung cảnh trông như đã bị bỏ quên suốt cả thập kỷ. “Chỉ nghe giọng thôi tôi cũng biết cô ta là một sinh vật chua ngoa, gắt gỏng, chẳng có lấy một chút dịu dàng của đàn bà. Nếu các người nhất quyết thuê cho tôi một người đàn bà, lẽ ra nên tìm một cô ở phố Fleet. Hạng đó có khi còn hợp với tôi hơn. Tôi không cần điều dưỡng. Tôi cần một…”
“Thưa ngài!” bà Philpot kêu lên.
Chủ nhân của bà có thể mù, nhưng không điếc. Tiếng kêu đầy phẫn nộ của bà chặn đứng lời anh còn hiệu quả hơn một cú đấm. Với chút tàn dư của phép lịch thiệp từng là bản năng thứ hai, anh xoay gót và cúi chào chiếc ghế bành bên trái Samantha. “Tôi khẩn khoản xin cô tha thứ cho cơn bộc phát trẻ con của tôi, thưa cô. Chúc cô một ngày tốt lành. Và một cuộc đời tốt đẹp.”
Tự định hướng về phía cửa phòng khách, anh lao thẳng tới, không hề giảm tốc hay dò dẫm. Lẽ ra anh đã đến nơi suôn sẻ nếu đầu gối không đâm sầm vào góc chiếc bàn gỗ gụ thấp với lực mạnh đến mức khiến Samantha cũng phải nhăn mặt thay. Gầm lên một câu chửi, anh bồi thêm một cú đá dữ dội khiến chiếc bàn bay thẳng vào bức tường đối diện, vỡ toang. Phải đến lần thứ ba anh mới tìm được tay nắm cửa bằng ngà voi, nhưng rồi cũng xoay xở đóng sầm cánh cửa sau lưng với một tiếng “rầm” đầy kịch tính.
Khi anh rút lui sâu hơn vào trong nhà, những tiếng đổ vỡ và lời chửi rủa thưa dần rồi tắt hẳn, trả lại sự im lặng nặng nề.
Bà Philpot nhẹ nhàng khép cánh cửa sổ kiểu Pháp, rồi quay lại xe trà, tự rót cho mình một tách. Bà ngồi nép trên mép ghế sofa như thể chính mình mới là khách, tách trà trong tay run lên, chạm vào đĩa phát ra những tiếng lách cách không ngớt.
Ông Beckwith nặng nề ngồi xuống bên cạnh bà. Rút chiếc khăn tay hồ cứng từ túi áo gi-lê, lão lau mồ hôi trên vầng trán nhễ nhại rồi ném cho Samantha một ánh nhìn áy náy. “Tôi e rằng chúng tôi nợ cô một lời xin lỗi, cô Wickersham. Chúng tôi đã không hoàn toàn thành thật.”
Samantha ngồi xuống chiếc ghế bành, đặt hai bàn tay đeo găng lên đùi, và ngạc nhiên nhận ra chính mình cũng đang run. Thầm cảm ơn bóng tối đã che giấu sự bối rối, nàng cất lời, giọng vẫn giữ được vẻ bình thản. “Chà, vị bá tước này chẳng giống chút nào với hình ảnh một bệnh nhân hiền lành mà các người đã mô tả trong mẩu quảng cáo.”
“Ngài ấy đã không còn là chính mình kể từ khi trở về từ trận chiến khủng khiếp đó. Nếu cô có thể biết ngài ấy của ngày xưa…” Bà Philpot nghẹn lại, đôi mắt xám long lanh lệ.
Beckwith đưa chiếc khăn tay cho bà. “Lavinia nói đúng. Ngài ấy từng là một quý ông mẫu mực, một hoàng tử đích thực giữa trần thế. Đôi khi tôi e rằng cú đánh khiến ngài ấy mù mắt cũng đã làm tổn hại đến trí óc.”
“Hoặc ít nhất là làm hỏng cách cư xử của ngài ấy,” Samantha nhận xét khô khốc. “Trí tuệ của ngài ấy xem ra vẫn còn nguyên vẹn.”
Bà quản gia khẽ lau chiếc mũi thanh tú. “Ngài ấy luôn là một đứa trẻ thông minh. Lúc nào cũng lanh lợi với những câu nói đùa và phép tính. Hiếm khi tôi thấy ngài ấy không kẹp một cuốn sách dưới nách. Khi còn nhỏ, tôi thường phải tịch thu nến trước giờ ngủ vì sợ ngài ấy giấu sách vào giường rồi làm cháy cả chăn.”
Samantha khựng lại khi nhận ra anh đã bị tước đoạt ngay cả niềm an ủi ấy. Thật khó mà tưởng tượng một cuộc đời thiếu vắng sự vỗ về âm thầm của những trang sách.
Beckwith gật đầu, ánh mắt dịu lại theo dòng ký ức. “Ngài ấy luôn là niềm tự hào của cha mẹ. Khi ngài ấy nảy ra ý định gia nhập Hải quân Hoàng gia, mẹ và các chị em gái đều hoảng hốt van xin ngài ấy đừng đi, còn cha ngài ấy, ngài hầu tước, thì dọa từ mặt. Nhưng đến ngày ngài ấy nhổ neo, tất cả họ đều đứng ở bến cảng, hô vang lời chúc phúc và vẫy khăn tiễn biệt.”
Samantha khẽ bứt mép găng tay. “Thật lạ đối với một quý tộc, nhất là con trai trưởng, khi lại chọn hải quân, phải không? Tôi cứ nghĩ Lục quân mới hấp dẫn giới quý tộc, còn Hải quân là nơi của những kẻ nghèo khó và đầy tham vọng.”
“Ngài ấy chưa bao giờ giải thích,” bà Philpot nói. “Chỉ bảo rằng mình phải đi theo tiếng gọi của trái tim. Ngài ấy từ chối mua quân hàm như nhiều người khác, mà khăng khăng giành lấy vị trí bằng năng lực của mình. Khi tin ngài ấy được thăng làm trung úy trên tàu HMS Victory gửi về, mẹ ngài ấy đã khóc vì hạnh phúc, còn cha ngài ấy thì tự hào đến mức suýt bung cả hàng khuy áo gi-lê.”
“Victory,” Samantha khẽ lẩm bẩm. Cái tên con tàu dường như đã vận vào số phận nó một cách tiên tri. Với sự hỗ trợ của những con tàu chị em, nó đã đánh bại hạm đội của Napoleon tại Trafalgar, nghiền nát giấc mộng thống trị biển cả của vị hoàng đế. Nhưng cái giá của chiến thắng ấy thật quá đắt. Đô đốc Nelson đã thắng trận nhưng mất mạng, cùng với bao chàng trai trẻ đã chiến đấu bên cạnh ông.
Món nợ với đất nước đã được trả, nhưng Gabriel Fairchild sẽ còn phải trả giá cho phần đời còn lại.
Một cơn giận âm ỉ dâng lên trong lòng nàng. “Nếu gia đình yêu thương ngài ấy đến vậy, thì giờ họ ở đâu?”
“Đi du ngoạn nước ngoài.”
“Ở dinh thự tại London.”
Hai người hầu cùng lúc đáp, rồi trao nhau ánh nhìn lúng túng. Bà Philpot thở dài. “Ngài ấy đã dành phần lớn tuổi thơ tại Trang viên Fairchild. Trong tất cả các dinh cơ của cha mình, nơi này luôn là chốn ngài ấy yêu thích nhất. Dĩ nhiên ngài ấy có nhà riêng ở London, nhưng vì tính chất nghiêm trọng của vết thương, gia đình cho rằng ngài ấy sẽ hồi phục tốt hơn tại ngôi nhà thời thơ ấu, tránh xa những ánh mắt tò mò của xã hội.”
“Dễ dàng cho ai? Cho ngài ấy, hay cho họ?”
Beckwith tránh ánh nhìn của nàng. “Nói cho công bằng, lần cuối họ đến thăm, ngài ấy gần như đã đuổi họ ra khỏi trang viên. Có lúc tôi còn sợ ngài ấy sẽ ra lệnh thả chó săn đuổi họ đi.”
“Tôi đoán họ cũng chẳng cần nhiều lý do để bỏ cuộc như thế.” Samantha khép mắt trong chốc lát, cố lấy lại bình tĩnh. Nàng chẳng có quyền phán xét sự thiếu kiên định của gia đình anh. “Đã hơn năm tháng kể từ khi ngài ấy bị thương. Bác sĩ có đưa ra chút hy vọng nào về việc thị lực của ngài có thể phục hồi không?”
Lão quản gia lắc đầu buồn bã. “Rất mong manh. Chỉ có một, hai trường hợp được ghi nhận là có thể hồi phục thôi.”
Samantha cúi đầu.
Ông Beckwith đứng dậy, đôi má phúng phính và vẻ mặt ủ rũ khiến lão trông như một chú chó Bun buồn bã. “Tôi thực lòng mong cô sẽ tha thứ vì chúng tôi đã làm phí thời gian của cô, cô Wickersham. Tôi biết cô đã phải thuê xe ngựa đến đây. Tôi sẵn lòng trả chi phí để cô quay lại thành phố.”
Samantha đứng dậy. “Không cần đâu, ông Beckwith. Hiện tại tôi sẽ không quay về London.”
Lão quản gia trao cho bà Philpot một ánh nhìn bối rối. “Cô nói sao cơ?”
Samantha bước đến chiếc ghế mình vừa ngồi và nhấc chiếc túi du lịch lên. “Tôi sẽ ở lại đây. Tôi nhận vị trí điều dưỡng của ngài bá tước. Giờ thì, nếu ông vui lòng cho người mang rương hòm của tôi từ xe ngựa vào và dẫn tôi nhận phòng, tôi sẽ chuẩn bị bắt đầu công việc.”
Anh vẫn còn ngửi thấy mùi hương của nàng.
Như thể trêu ngươi, khứu giác của Gabriel dường như càng trở nên nhạy bén hơn trong những tháng gần đây, như để nhắc anh về những gì đã mất. Mỗi khi đi ngang qua nhà bếp, chỉ cần hít một hơi là anh biết ngay Étienne, gã đầu bếp người Pháp, đang chế biến món bê hầm hay thứ sốt béchamel béo ngậy để quyến rũ vị giác của mình. Chỉ một làn khói gỗ thoảng qua cũng đủ để anh nhận ra ngọn lửa trong thư viện vắng lặng vừa được thêm củi hay đang lụi dần thành than hồng. Khi thả mình xuống chiếc giường trong căn phòng giờ đây giống hang ổ hơn là phòng ngủ, anh bị vây bủa bởi mùi mồ hôi cũ kỹ bám trên những tấm drap nhăn nhúm.
Đó là nơi anh trở về để xoa dịu những vết bầm và trầy xước, nơi anh thao thức suốt những đêm dài mà điểm khác biệt duy nhất với ban ngày chỉ là sự tĩnh lặng ngột ngạt. Trong những giờ khắc lặng câm giữa hoàng hôn và bình minh, đôi khi anh có cảm giác mình là linh hồn duy nhất còn sót lại trên thế gian.
Gabriel vắt mu bàn tay lên trán, nhắm mắt theo thói quen cũ. Khi xông vào phòng khách, anh đã nhận ra ngay mùi nước hoa oải hương quen thuộc của bà Philpot và mùi sáp vuốt tóc nồng nặc mà Beckwith vẫn xức lên những sợi tóc thưa thớt còn lại. Nhưng anh chưa từng biết đến thứ hương cam chanh thanh sạch, rạng rỡ như nắng mai đang lan tỏa trong không gian ấy. Đó là một mùi hương vừa ngọt vừa chua, vừa tinh tế lại vừa táo bạo.
Cô Wickersham tuyệt nhiên không mang mùi của một điều dưỡng. Mụ già Cora Gringott thì ám mùi băng phiến, còn góa phụ Hawkins lại sực nức mùi thuốc lá bột hạnh nhân đắng mà bà ta nghiện ngập. Cô Wickersham cũng chẳng có mùi của một bà cô khô héo như anh từng hình dung khi nghe nàng cất giọng. Nếu cái giọng điệu sắc sảo ấy là dấu hiệu, thì lẽ ra lỗ chân lông của nàng phải toát ra thứ hơi thở độc địa của bắp cải ôi và bụi mồ.
Khi tiến lại gần nàng, anh còn phát hiện ra một điều khiến mình kinh ngạc hơn nữa. Ẩn dưới lớp hương cam chanh thanh sạch ấy là một mùi hương khiến anh phát điên, làm nhòa đi chút tỉnh táo và lý trí ít ỏi còn sót lại.
Nàng mang mùi của một người phụ nữ.
Gabriel rít lên qua hàm răng nghiến chặt. Kể từ khi tỉnh dậy trong bệnh viện ở London và nhận ra thế giới của mình đã chìm trong bóng tối, anh chưa từng cảm thấy một chút rạo rực nào. Vậy mà mùi hương ấm áp, ngọt ngào từ làn da cô Wickersham lại đánh thức trong anh những ký ức mờ ảo nhuốm sắc đỏ, những nụ hôn vụng trộm dưới ánh trăng trong vườn, những lời thì thầm khàn đục, và làn da mịn màng nóng bỏng của một người phụ nữ dưới môi anh. Tất cả những khoái cảm ấy, anh sẽ không bao giờ còn được nếm lại.
Anh mở mắt ra, chỉ để thấy thế giới vẫn bị nuốt chửng bởi bóng tối. Có lẽ những gì anh gào lên với Beckwith là đúng. Có lẽ anh nên thuê một kiểu đàn bà hoàn toàn khác. Nếu trả đủ hậu hĩnh, cô ta thậm chí có thể nhìn vào gương mặt tàn phế này mà không giật mình kinh hãi. Nhưng điều đó thì có ý nghĩa gì? Gabriel bật ra một tiếng cười khô khốc. Anh sẽ chẳng bao giờ biết được. Có lẽ, trong khi cô ta nhắm mắt và tưởng tượng anh là người tình trong mộng, anh cũng có thể giả vờ rằng cô ta là kiểu phụ nữ sẽ thì thầm tên anh và hứa hẹn một lòng tận hiến vĩnh viễn.
Những lời hứa mà cô ta chưa từng có ý định giữ.
Gabriel bật dậy khỏi giường. Chết tiệt cái cô Wickersham ấy. Nàng chẳng có quyền gì mà vừa khiến anh bực tức đến thế, lại vừa tỏa ra thứ hương ngọt ngào đến vậy. May thay, anh đã ra lệnh cho Beckwith đuổi nàng đi. Với anh, tốt nhất là nàng đừng bao giờ xuất hiện để làm phiền anh thêm lần nào nữa.